KHÁM CHỮA BỆNH »  SA TỬ CUNG
ĐÔNG Y CHỮA SA TỬ CUNG

BS PHẠM THỊ MAI chữa sa tử cung, sa dạ con : Sa tử cung là bệnh Nội khoa Tây y không có thuốc chữa. Ngoại khoa có chỉ định mổ khi bệnh nặng. Đông y chữa hồi phục giai đoạn I, hay I mới chuyển sang II. Chữa sa dạ con bằng Đông y sẽ thành công nếu bạn cùng bác sĩ của bạn tích cực trao đổi để cùng một lúc chữa phối hợp nhiều phương pháp cổ truyền.


 ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ SA TỬ CUNG

                                     BS Phạm Thị Mai
              Nguyên trưởng khoa Đông y - Bệnh viện Đà Nẵng

   Sa tử cung , sa sinh dục được Đông y gọi là sa dạ con, âm đỉnh, âm thoát, âm trĩ.
   Sa tử cung là bệnh Nội khoa Tây y không có thuốc chữa. Ngoại khoa có chỉ định mổ khi bệnh nặng. Đông y chữa hồi phục giai đoạn I, hay I mới chuyển sang II. Chữa sa dạ con bằng Đông y sẽ thành công nếu bạn cùng bác sĩ của bạn tích cực trao đổi để cùng một lúc chữa phối hợp nhiều phương pháp cổ truyền. Đó là dùng bài thuốc cổ phương " Bổ Trung Ích Khí gia vị" kết hợp với nhiều phương pháp nhét thuốc, rửa thuốc, châm cứu, xoa bóp, tập Yoga, ẩm thực trị liệu..

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH ( theo Đông y)
   
   Người phụ nữ khoẻ mạnh vùng bào cung, là do cấu trúc đầy đủ, khí dương thanh thăng, khí âm trọc giáng, thời bào cung mới sinh hoá, phát dục bình thường và không bị bệnh.
   Người phụ nữ bị bệnh do các chứng hư, bất túc ( không đầy đủ) gây ra làm cho khí dương thanh hạ hãm ( KHÍ HƯ HẠ HÃM), tấu lý sơ hở ( đường bảo vệ bào cung không chặt chẽ) gây ra âm đạo, tử cung sà thoát xuống, ra ngoài âm hộ.
   Vì vậy Đông y chữa bệnh yếu dạ con mà sa thoát, chủ yếu cần phải kiến tạo bên trong ( BỔ TRUNG) và  thăng dương khí  ( ÍCH KHÍ THĂNG ĐỀ) để đưa tử cung lên vị trí bình thường). Ngoài ra tuỳ theo mức độ và thể bệnh để kết hợp với các phương thang khác.
   Các yếu tố bất lợi khác cũng thúc đẩy bệnh bệnh xuất hiện và nặng thêm như : lao động mang vác nặng trong thời gian dài. Có hành kinh phải làm việc quá sức. Cuộc chuyển dạ và đỡ đẻ không đúng  làm cho tử cung sà thoát xuống, sau đó không co lên được nữa .Có thai, thai nặng , dây chằng và các cơ đơ tử cung yếu.....

II.CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ ĐÔNG Y

+ Sa sinh dục độ I, II ( BN trẻ).
+ Sa độ sinh dục độ III ( BN quá già, hoặc BN đang có bệnh toàn thân chống chỉ định hay cần thận khi ra y lệnh mổ như thiếu máu, bệnh tim mạch, hô hấp, huyết áp cao, tiểu đường)
+ Chỉ chữa có tử cung lên sau khi đã điều trị các biến chứng cấp tính.

III. THUỐC THANG SẮC UỒNG ĐIỀU TRỊ THEO THỂ BỆNH 

1.  Thể bệnh khí hư hạ hãm :

* Triệu chứng
 : tử cung trụt xuống thập thò âm hộ hoặc thoát ra hẳn bên ngoài âm hộ. Sắc mặt bạc. Yếu sức, Đoản khí, làm việc mau mệt, sợ lạnh. Lưỡi nhạt , rêu lưỡi ít, mạch tế nhược.
* 
Pháp trị : bổ trung, ích khí thăng đề
* Phương thang chính : “ Bổ Trung Ngiệm Phương " MBS
* Thành phần :  ghi trong SBT 
* Phương nghĩa : Bệnh do khí hư hạ hãm. Phế là chủ của khí, nên trong thang thuốc dùng Hoàng Kỳ để bổ phế ích khí, làm quân dược.Tỳ thuộc thổ , phế thuốc kim. Thổ sinh kim. Vì vậy theo quy luật ngũ hành tương sinh thì Tỳ sinh phế. Trong thang dùng Nhân sâm, Cam thảo để bổ tỳ, ích khí, hoà trung làm thần dược. Bạch truật  kiện tỳ, Đương quy hoà huyết dưỡng âm, Trần bì  lý khí. Các vị này đều là tá dược.Thăng ma thăng dương khí của Dương Minh Kinh, Sài hồ thăng dương khí của Thiếu Dương Kinh, đều làm sứ ( sữ giả dẫn tất cả các vị thuốc vài kinh lạc trên, đưa dương khí thăng lên)  Sinh khương tân ôn, Đại táo cam ôn, để hoà vinh vệ, khai tấu lý, ổn tân dịch.Nhờ phối vị chặt chẽ mà các chứng hư, bất túc, được kiến tạo lại và khí dương thanh thăng đưa nội tạng sà thoát về được vị trí cũ của nó. Ngoài ra theo nghiệm phương bác sỹ Mai còn phối vị cho tăng hiệu quả điều trị 

* Phép gia giảm: 
   Phép sử dụng thuốc, gia giảm theo chứng và bát cương rất quan trọng. Đây là điều trọng yếu thành công trong điều trị.
   Vì thang trên sử dụng chủ yếu là thuốc cam ôn, thích hợp với dương hư, tỳ dương hư, khí hư. Nhưng lại không hợp với người bệnh có kiêm chứng âm hư, tỳ âm hư, huyết hư. Do đó người thầy thuốc Đông y cần phối vị theo tính dược cùng bệnh chứng , và từng giai đoạn bệnh  để sử dụng thuốc cho hiệu quả. Nên lưu ý các vị Nhân sâm, Thanh bì, Chi Tử.  

2.Thể bệnh khí huyết lưỡng hư : 

* Triệu chứng
 : tử cung trụt xuống sà xuống thấp, nếu nặng thì trụt hẳn ra ngoài háng.  Sắc vàng úaâm xoàng, ù tai, da khô khan, chóng mặt, hoa mắt, lưng mỏi, xương đau, da nhăn, tóc rụng, đại tiện bón, lưỡi nứt nẻ, mạch tê snhược .
* 
Pháp trị : bổ huyết,, ích khí thăng đề
Phương thang chính : “ Thập Toàn Đại Bổ Gia Giảm "
* Thành phần :  ghi trong SBT 
* Phương nghĩa
 : Bệnh do khí huyết cùng hư yếu. gây sa thoát nội tạng . Bài này là phối hợp hai baig Tứ quân đứng đầu thuốc  bổ khí và tứ vật đầu bảng cho bổ huyết.  Gia thêm Hoàng kỳ, Đại táo  tăng tác dụng bổ khí, Qué nhục  có thể không cho hoặc với lượng nhỏ.
   Trong thang Tứ Vật : Thục Địa cam ôn hậu vị sinh huyết mới  . Đương Quy tân ôn vừa bổ huyết vừa hành huyết , bớt đi tính nê trệ của Thục. Bach Thược khổ toan vừa bổ huyết vừa thẩm thấu . Xuyên Khung tân thủ ( cay nồng) để tán đi ( huyết đi thông lợi) , can khi vượng hành mà bình ( khiing quá mức) , thì quy địa mới hữu hiệu. Bốn vị đều quan trọng không thể thiếu và hỗ trợ cho nhau.
   Trong thang Tứ Quân : Nhân sâm đại bổ khí huyết  thấm nhuận tỳ vị làm quân. Bạch truật kiện tỳ bổ khí làm thần. Phục linh để rút ẩm thấp, trợ tỳ làm phụ  tá, Cam thảo hoà ở trong , dưỡng vị làm sứ. Bốn vị đều ngọt ấm, phò trợ trung cung , không thiên lệch bên nào , nên gọi Tứ Quân là vì vậy.     

Hoặc “ Nhân Sâm Dưỡng Vinh “ nếu môi miệng khô, tâm không yên , mất ngủ lo lắng thì dùng .dều ngọt ấm, ph được gọi là Tứ Quân . ò trợ trung cung, triển bố tân dịch, không thiên lệch bên nào , nên

 * Phép gia giảm: các bài thuốc trên bao giờ cũng gia giảm cho phù hợp với bệnh ( vì trên lâm sang, bao giờ các trieeug chứng cũng thể hiện phổi hợp nhiều thể, không đơn giản như phân loại theo lý thuyết. Nhưng cơ bản là gia   Thăng ma thăng dương khí của Dương Minh Kinh, Sài hồ thăng dương khí của Thiếu Dương Kinh, đều làm sứ ( sữ giả dẫn tất cả các vị thuốc vài kinh lạc trên, đưa dương khí thăng lên) 

3. Thận hư kshông cố nhiếp

* Triệu chứng : thể lực yếu, da xỉn xạm, ám đen ( không tươi sáng).Tử cung trụt xuống thập thò âm hộ hoặc thoát ra hẳn bên ngoài âm hộ. bạc. Bụng dưới cảm giác nặng sỉa xuống. Đau mỏi thắt lưng , đuì , đầu gối. Ù tai , hoa mắt. Tiểu nhiều lần về đêm. Âm hộ, âm đạo teo khô. Lưỡi hồng nhạt, mạch xích trầm nhược.
Pháp trị : tư bổ thận dương , cố thoát thăng đề
Phương thang chính : “ Đại Bổ Nguyên Tiễn gia vị “  
*
Thành phần :  ghi trong SBT 
* Phương nghĩa : Bệnh do thận hư mà không có nội nhiệt và đàm thấp. Bổ ích khí huyết, cứu bản, bồi nguyên. Cố thoát. Trị sa tử cung có hội chứng thận hư không cố nhiếp. Trong bài có Thục địa liều cao, Hoài sơn , sơn thù các đầu vị trong bài lục vị bổ thận làm quân. Kỷ tử 8g tăng thêm tác dụng bổ thận làm thần. Đỗ trọng 8g làm sứ đưa các vị thuốc về thủ phủ của thân là vùng lưng.  Nhân sâm, Đương quy phối hợp đại bổ khí huyết, Cam thảo điều hoà các vị thuốc,
* Gia giảm theo chứng trạng phối hợp hay tuỳ theo giai đoạn bệnh. Nên lứu ý nhất là Thăng ma.   

4. Thể thấp nhiệt hạ bộ/ âm đỉnh :

* Triệu chứng : thực ra đây là biến chứng nhiễm trùng của sa tử cung.  Tử cung  thoát ra ngoài,  lủng lẳng bên háng như bộ phận sinh dục của đàn ông . Do bị cọ sát và không giữ vệ sinh nên bội nhiễm các loại vi trùng , nấm. Khiến cổ tử cung và tử cung viêm , tấy , loét đỏ , chảy nhiều dịch vàng, hôi . Tiểu tiện có thể buốt gắt. Người bệnh mệt mỏi, đắng miệng , khô môi,đầu lưỡi đỏ,  lưỡi bợn vàng.  mạch tế sác.
Pháp trị : hai giai đoạn. 
        -  Thanh nhiệt, thẩm thấp  ( trong giai đoạn thấp nhiệt) . Sau đó , khi đã hết viêm nhiễm trùng :lựa chọn một trong các pháp trị sa dạ con như ở trên
+ Giai đoạn nhiễm trùng , phương thang :  " Long Đởm Tả Can gia Vị"
+ Giai  đoạn đưa tử cung lên : dùng một hay phối hợp các phương thang nói trên

* Phương nghĩa : Long đởm tả can nhiệt. Sài hồ bình đởm nhiệt làm quân. Quy , Địa dưỡng huyết bổ can làm thần. Hoàng cầm , chi tử thanh tam tiêu và phế nhiệt, Trạch tả tả thận kinh thấp nhiệt, Mộc thông và Sa tiền tả tiểu trường và bàng quang thấp nhiệt, năm vị này  được dùng làm tá. Cam thảo hoãn trung làm sứ.
* Gia giảm :  tuỳ theo thể âm thũng ( bội nhiễm vi trùng, nấm , đơn bào hay chàm hoá )  để gia giảm thuốc cho thích hợp.


5. Âm lãnh , Âm nuy / Âm đỉnh :
cần phối hợp chữa cùng một lúc bệnh lãnh cảm và sa tử cung . Xem bài ÂM LÃNH, ÂM NUY ( LIỆT ÂM )http://new.suckhoeloisong.vn/news/view/am-lanh-am-nuy.html
 

III. CÁC PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ 
1. THUỐC RỬA
2. THUỐC ĐẶT   để tử cung  săn chắc lại và co rút lên. Ghi trong SBT
3. THUỐC ĐẶT KHI CÓ BỘI NHIỀM 
4. XOA BÓP BẤM HUYỆT , CHÂM CỨU
5. TẬP YOGA
6. TẬP MẠNH CƠ ĐÁY CHẬU 
MỖI MỤC ĐỀU CÓ BÀI RIÊNG , MỜI CÁC BẠN ĐỌC TIẾP 

 





Để lại tin nhắn để được tư vấn