KHÁM CHỮA BỆNH »  CHỮA VÔ SINH NỮ BẰNG ĐÔNG Y
HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA BUỒNG TRỨNG

Bác sĩ  Phạm Thị Mai : Một nang noãn vượt trội : khoảng ngày thứ 7 - 10 của kinh kỳ, FSH truyền tín hiệu cho các tế bào hạt của các nang noãn chuyển hoá androgen thành estrogen, đặc biệt có một nang noãn xảy ra quá trình tổng hợp estrrogen rất mạnh,  làm nang noãn này phát triển vượt trội, chín khi to đến 22 - 25 mm. Bên trong nang noãn này có noãn kích thước chừng 120 micromet...34 - 38 giờ sau tạo đỉnh LH, xảy ra hiện tượng rụng trứng ( phóng noãn)
HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA BUỒNG TRỨNG 
                             Bác sĩ Phạm Thị Mai


 Noãn bào ( noãn ) là tế bào trứng trong buồng trứng.

 Nang noãn là noãn được bao quanh bởi những lớp  tế bào hạt, dịch nang và vỏ bao của nang tạo thành nang noãn. Nang có chức năng bảo vệ noãn bào, cung cấp dưỡng chất, hormon và truyền tín hiệu cho noãn bào. 
 

Buồng trứng được hình thành, phát triển và hoạt động qua các giai đoạn sau :

I. THỜI KỲ BÀO THAI

     1. Tế bào mầm nguyên thuỷ và nang noãn nguyên thuỷ: gờ sinh dục phôi thai nữ, từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 5, có vài triệu tế bào noãn non gọi là mầm nguyên thuỷ chứa bộ NST ( nhiễm sắc thể ) lưỡng bội, bao gồm 22 cặp  NST thường (Autosomes) và một cặp NST giới tính 2n= 44 A + XX. Nang noãn nguyên thuỷ gồm các tế bào tiền hạt hình thoi bao quanh tế bào mầm.

      2. Noãn nguyên bào,  noãn bào sơ cấp và nang noãn sơ cấp

    Buồng trứng hình thành và phát triển do các tế bào mầm nguyên thuỷ nguyên phân rất mạnh thành những noãn nguyên bào và tiếp tục biệt hoá thành noãn bào sơ cấp. Khi bé gái được sinh ra thì toàn bộ noãn bào sơ cấp đã  bước vào  giảm phân I, rồi dừng phân chia ở giai đoan tiền kỳ I.

    Các tế bào tiền hạt tăng sinh và chuyển sang hình trụ, chế  tiết dịch nang.tăng lên, các khoang kẽ cũng tăng lên. Vì vậy  nó có thể nhận được tín hiệu hormon từ các tế bào lân cận. 

      Buồng trứng tích luỹ dinh dưỡng và tạo dựng chất liệu di truyền, tiếp hợp và trao đổi chéo của các NST  tương đồng cho trứng sinh trưởng và phát dục sau này. 

 

II. TỪ SƠ SINH ĐẾN  BÉ GÁI CHƯA DẬY THÌ 

    Là thời kỳ buồng trứng với các noãn bào sơ cấp đang dừng lại ở tiền kỳ I. Giai đoạn dừng này rất lâu. Khoảng từ 10 – 15 năm

III. TỪ DẬY THÌ ĐẾN MÃN KINH

     Ở giai đoạn này,buồng trứng hoạt động theo nội tiết hướng sinh dục và sinh dục, tạo chu kỳ kinh nguyệt. Mỗi chu kỳ kinh nguyệt có 2 phase. Khoảng giữa 2 phase là thời điểm phóng noãn.

  1. 1.    Phase noãn :

     Cuối kinh kỳ trước, do lượngng estrogen, progestrogene và inhibin giảm đột ngột, làm tăng nồng độ FSH trong máu. FSH đã kích thích buồng trứng, vì vậy  vào ngày thứ 2 -3 của kinh kỳ mỗi bên buồng trứng có khoảng  từ 3 - 11 nang noãn sơ cấp,  đường kính 3 – 4 mm. được chọn lọc tăng trưởng.

      Khoảng ngày thứ 7 của kinh kỳ, do  các nang noãn tăng trưởng,  đã tạo ra lượng lớn estrrogen và inhibi, làm tuyến yên giảm tiết FSH.  FSH không truyền tín hiệu cho các tế bào hạt của các nang noãn chuyển androgen thành estrogen. Androgen tăng trong các nang này làm chúng bị thoái hoá .

      Trong số đó có một nang noãn vượt trội : khoảng ngày thứ 7 - 10 của kinh kỳ, FSH truyền tín hiệu ưu tiên chuyển hoá mạnh androgen thành estrogen cho nang noãn này. Nó  lớn rất nhanh  2 mm/ ngày, có lượng nguyên sinh chất và tế bào hạt tăng sinh nhiều. Lớp vỏ trong và vỏ ngoài nang được hoàn thiện, đầy đủ các thụ thể trên bề mặt vỏ nang để tiếp nhận trực tiếp thông tin.

      Nang noãn tam cấp : nang noãn vượt trội trở thành nang tam cấp.  Các tế bào hạt của  nang cung cấp dưỡng chất, hormone và tín hiệu cho noãn  chuẩn bị chín.. Tốc độ  tích tụ dịch nang,nhanh chóng làm nang noãn có một khoang lớn chứa dịch nang nên còn gọi nang khoang.

     Nang tiền rụng trứng – nang Graff : nang noãn lớn rất nhanh, chứa nhiều dịch phồng to  từ 20 – 28 mm Bên trong nang noãn này có noãn kích thước chừng 120 micromet .

2. Phóng noãn

Đỉnh LH là gì ? :

Đỉnh LH là khi nồng độ estrogen đạt 200 pg/ ml trong 50 giờ, thì nồng độ  Luteinizing Hormone tăng vọt từ  17 - 80 mUI/ ml, gấp  6 - 10 lần , cùng với  FSH 10 - 23 mIU/ ml. tăng 2 – 3, gây kích rụng trứng. - Nồng độ cao vọt của LH giúp: 
     - Noãn bào thực hiện phân bào nhanh chóng. 
     - Đỉnh LH hoàng thể hoá các tế bào hạt, tiết ra progesterone và prostaglandin bên trong nang. Prostaglandin đạt đỉnh,  có tác dụng co bóp cơ trơn buồng trứng trong khi phóng noãn. 
     Các men trong dịch nang như plasmin, collagenase phá vỡ thành nang giúp trứng thoát ra.  

Thời gian phóng noãn

15 giờ sau LH tạo đỉnh, tiếp diễn và hoàn tất  giảm phân I , Kết quả  tạo ra noãn bào thứ cấp,  có  bộ  NST đơn bội n=23 = 22A + X  ( và  cực cầu 1 nhỏ, sau tiêu đi).  

35   giờ  sau tạo đỉnh : noãn bào thứ cấp  dừng phân bào ở trung kỳ II.  

36 h sau tạo đỉnh , tiền phóng noãn :   nang tạo 1 khoang chứa đầy dịch , đẩy noãn về một bên, sát bao nang.

khoảng 34 – 38 giờ sau đỉnh LH phóng noãn:  : nang căng phồng đầy dich,  thành nang bị enzym phân huỷ mỏng đi, vỡ rách ra, noãn  thoát ra ngoài và được tua vòi trứng chộp ngay lấy, đưa vào ống dẫn trứng. Sự phóng noãn chỉ xảy ra trong vài phút ( quan sát trên siêu âm )

Noãn bào thứ cấp phóng ra, đi đến 1/3 ngoài vòi trứng, mà có kích thích của tinh trùng vào vỏ noãn, thì xảy ra sự hoàn tất giảm phân II rất nhanh, cho một noãn chín  n=23 = 22A + X có khả năng thụ tinh (và một  cực cầu 2.- nhỏ, sẽ  tự tiêu đi) :

     Như vậy để đậu thai, riêng về phần người phụ nữ : cần có noãn trưởng thành có ( đủ kích thước và chất lượng )  khả năng thụ tinh và cần có nang chứa noãn bảo đảm chức năng sinh lý của nó dưới tác động bình thường của nội tiết FSH và LH 

Có tỷ lệ 4,5 % phụ nữ siêu âm có noãn đạt kích thước bình trường, nhưng nang De Graff  không vỡ để trứng thoát ra được.  Do nguyên nhân nội tiết : vào những ngày này : LH < 10 mUI/ ml. FSH <  10 mIU/ ml thì không tạo được đỉnh để kích rụng trứng.Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác nưa.

 

3. Phase hoàng thể
      
    Hoàng thể là tuyến nội tiết, tiết ra :
    - Progesterone khoảng 40 mg/  ngày,  và  cao nhất vào giưa phase hoàng thể ( khoảng ngày thứ 24 đối với chu kỳ 30 ngày)   
       Ngày thứ 21 của kinh kỳ,  Progesterone  > 3 ng / mL thì  khẳng định có phóng noãn.
       Phụ nữ mới đậu thai, nhất là phụ mữ hiếm muộn đã có thai, cần xét nghiệm Progesterone . Nếu Progesterone  < 15 ng / mL  cần bổ xung Progesterone  dạng viên đặt âm đạo hay thuốc uống .
    - Estradiol và  Inhibin  được chế xuất ra một lượng lớn trong phase hoàng thể.
   

    + Nang hoàng thế hình thành :  dưới tác dụng của LH và FSH,  hoàng thể hoá được diễn ra  từ khi nang noãn sắp phóng đến sau phóng noãn. Các tế bào hạt chuyển thành tế bào hoàng thể ( hoàng thể hạt phì đại và hoàng thể vỏ) . Nó trở thành mô sinh steroit mạnh nhất của cơ thể ( Progesterone là một steroit ) . Vì vậy nhu cầu tăng sinh mạch, tưới máu rất lớn. Chính vì vậy trong cấp cứu phụ khoa có tình trang nang hoàng thể vỡ, xuất huyết.

   + Nang hoàng thể thoái hoá 
     Nếu không đậu thai, hoàng thể thoái hoá vào ngày cuối cùng của kỳ kinh.
     Ngày thứ 14 tính từ ngày đầu của kỳ kinh sau trở lui là ngày trứng rụng, thì hoàng thể chỉ  "thọ" được 14 ngày. 
      Khi hoàng thể teo thì Progesterone giảm đột ngột, không có chất để kích thích nuôi dưỡng nội mạc tử cung , gây bong niêm mạc, chảy máu gọi là hành kinh.

  +  Hoàng thể tăng trưởng : 
     Nếu có thai, HCG ( Human Chorionic Gonadotropin ) - hormon được tổng hợp bởi mô tiền nhau thai khi phôi thai hình thành được khoảng 10 ngày. HCG kích thích hoàng thể tiết ra progesterone và oestrogen từ khi phôi thai được 10 ngày đến khoảng hơn 10 tuần đầu của tuổi thai . Khi mô tiền nhau thai đã trở thành nhau thai, thì nhau thai cung cấp đủ progesterone và oestrogen, sẽ giúp làm dày lên lớp niêm mạc tử cung để cung cấp đủ máu nhằm duy trì sự phát triển của bào thai. Lúc này hoàng thể tiêu đi.   

                                                                                        Bác sĩ Phạm Thị Mai

 Bạn cần tư vấn về chậm con, thai yếu, doạ sảy thai, sảy thai nhiều lần. 
  hãy gọi số 0913 494 474 - Bác sĩ Mai

 

Bài đọc thêm : SỰ PHÂN BÀO GIẢM NHIỄM ( GIẢM PHÂN – MEIOSIS )

 

     Giảm phân là gì  ? Nếu nguyên phân là các tế bào thân ( soma ) phân chia và giữ nguyên bộ NST ( nhiễm sắc thể ) lượng bội 2n thì giảm phân là quá trình sinh trứng hay sinh tinh ( ở người) tế bào sinh dục phân chia và bộ NST còn đơn bội 1n.

 

     Kết quả của quá trình giảm phân :

 

-  Sinh ra trứng ( tinh trùng) mang bộ NST đơn bội , qua thụ tinh, hợp tử có số NST được khôi phục lại thành lưỡng bội .

 

 - Đa dạng kiểu gen cho các trứng ( tinh trùng) được hình thành. Chúng chứa các gen gốc ( của bố, hoặc mẹ ) và chứa cả gen trao đổi chéo của các cặp NST tương đồng ( gen của bố mẹ hoà nhập với nhau).  

 

 - Đa dạng tổ hợp NST : do có sự tái tổ hợp lại bộ NST ở các tế bào con. Các NST của cặp NST tương đồng phân ly nhau  rồi phân bố về các cực một cách ngẫu nhiên, để tạo nên bộ NST mới, riêng biệt cho mỗi trứng ( tinh trùng) .

 

     Như vậy qua quá trình giảm phân, buồng trứng ( tinh hoàn)  hình thành nên nhiều trứng ( tinh trùng) khác nhau về chất liệu di truyền – gen và tổ hợp bộ NST, do đó  thế hệ con cái được sinh rất đa dạng cả về kiểu gen và  kiểu hình.

 

Các giai đoạn của quá trình giảm phân : 
 

 

 I. GIẢM  NHIỄM  I

 

 1. Tiền Kỳ I : có 4 giai đoạn

 

 + Leptonem : rất khó nhận biết các NST vì NST có dạng hai sợi nhiễm sắc dài, mảnh,  xoắn,  gắn vào nhau ở một tâm . Số lượng NST 2n. 

 

 + Zigonem:  các NST tương đồng ( một chiếc có nguồn gốc từ bố, chiếc kia  nguồn gốc từ mẹ )  liên kết thành cặp.

 

 + Pachinem  tương đối dài. 2 NST tương đồng dính sát vào nhau. Dày lên và co ngắn lại ( thể lưỡng trị ).

 

 Mỗi lưỡng trị có hai tâm động và gồm 4 sợi NST (chromatid). 2 NST tương đồng trao đổi gen cho nhau để hình thành  tái tổ hợp cho bộ  gen mới .

 

 + Diplonem . Các NST tương đồng co ngắn hơn và tách nhau ra, chỉ  dính  ở điểm trao đổi chéo , có dạng V,X,8, 0,+.

 

  + Diakinese: NST càng co ngắn lại. Các  đơn trị tách nhau ra và thường nằm ở ngoại vi của nhân.

 

  2.Trung kỳ I : màng nhân bị hủy, các lưỡng trị xếp  ở xích đạo, 2 nhiễm sắc tử của mỗi cặp tương đồng hướng tâm động của mình về  cực đối diện. Các tâm động càng đẩy nhau mạnh hơn và các nhiễm sắc tử chuẩn bị để phân ly về2 cực.

 

 3.  Hậu kỳ I: mỗi NST  tách khỏi cặp tương đồng của nó  để đi về 1 cực của tế bào.

 

  4. Mạt kỳ:  các cặp NST tương đồng, tách thành hai nhóm , đi về hai cực tạo hai bộ NST cho 2 nhân mới. Màng nhân được  tạo thành bao lấy chất nhân.  Tế bào chất phân chia,  hình thành nên hai tếbào con, có chứa bộ NST đơn bội

 

 Kì trung gian (interkinez):  là kì nằm giữa lần phân chia I và II của giảm phân. Kỳ trung gian không xảy ra hiện tượng nhân  đôi nhiễm sắc thể cũng như không có nhân  đôi ADN, kì trung gian nói chung rất ngắn.

 

  II. GIẢM NHIỄM  II  xảy ra giống như nguyên phân: Cơ chế xẩy ra  ở phân bào nhiễm như trong phân bào nguyên nhiễm bình thường.

 

  1. Tiền kì II: rất ngắn, có khi không có, các bộ hai vẫn còn dính với nhau ở tâm động, nhưng các vai đã bắt đầu đẩy nhau ra

 

 2. Trung kì II: các NST xếp ở mặt xích đạo trên thoi vô sắc.

 

 3. Hậu kì II: tâm động của mỗi bộ hai chia đôi, các NST con (nhiễm sắc tử ) trượt trên thoi, phân ly về hai cực và mỗi nhiễm sắc tử = 1 NST.

 

4. Mạt kì II: xảy ra sự phân chia tế bào chất.  Ở lần phân chia hai, yếu tố phân chia về hai cực là các NST con (nhiễm sắc tử) nên được gọi là phân chia cân bằng. Kết quả ta có các tế bào con với bộ NST đơn bội 

 

                                                                                               BS phạm Thị Mai biên soạn

 




CÁC BÀI KHÁC
Để lại tin nhắn để được tư vấn